Sidebar

17
Chủ nhật, 12

Chuyện về người lính già và kho chữ!

Người Hiệp Hòa

Tôi nghe tiếng tăm của ông đã từ rất lâu rồi. Rằng ông là người lính của Sư đoàn 308 lẫy lừng nay đã về hưu . Rằng ông là cố vấn đặc biệt của Hội thơ Hương Lâm, là tác giả của hàng chục đầu sách ( đã in và chưa in). Và đặc biệt, ông là người đã có hàng chục năm gánh gạo đi học chữ Nho từ thời Pháp thuộc- để đến bây giờ, ông trở thành một trong những người hiếm hoi của đất Hiệp Hòa đang sở hữu kho chữ thánh hiền quý giá .

Nghe vậy, và hẹn hò với thầy giáo Nguyễn Đình Kim đã mấy lần, mãi sáng qua( 22-7) tôi mới có dịp đến thăm ông.

Trong hình ảnh có thể có: 2 người

Thầy giáo Nguyễn Đình Kim và ông Lê Xuân Hãng trước cửa nhà của ông - sáng 22-7-2017

Ông là Lê Xuân Hãng , sinh năm 1926 , quê ở làng Phúc Ninh- xã Hương Lâm ( Hiệp Hòa- Bắc Giang), nguyên Trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam đã nghỉ hưu từ hơn ba chục năm nay.

Hôm nay ông ở nhà một mình . Đang nghe đài, nói về ngày 27-7. Gặp chúng tôi, ông muốn ngồi ngay dậy để tiếp khách. Nhưng hình như ông cụ mệt . Nghe đến hai lần mới nhận ra Nguyễn Đình Kim , một người cháu rất đỗi thân thiết của ông , nhà ngay bên làng Ngọ Xá. Vừa chỉ ghế mời khách ngồi, ông cụ vừa nói :
- Tôi đang nghe đài các anh ạ. Người ta đang nói về thương binh liệt sĩ . Gớm. Mất mát nhiều quá !

Ông nói mà chẳng nhìn chúng tôi. Cứ nhìn qua ô cửa sổ ra mảnh sân đang hoe hoe nắng. Giọng đượm buồn pha chút suy tư, trăn trở . Rồi trút một tiếng thở dài . Hình như ông đang nhớ về một điều gì đó . Tôi nhìn ông. Gợi chuyện . Và cũng để kéo ông ra khỏi cái nỗi buồn, nỗi nhớ về đồng đội mến thương .

Mở đầu, tôi hỏi ông về thời xa xưa, cái thời ông tìm thầy theo học chữ Nho từ những năm 20 của thế kỷ 20 xa lắc. Ông cụ bảo : ngày ấy đã lâu lắm rồi. Khi ông sang Ngọ Xá học thì bố anh Kim mới tròn 4 tuổi. Đó là năm 1940. Ông theo học cụ đồ Cả Nhạ- người bên Vọng Nguyệt- Tam Giang . Bạn học của ông ngày ấy là ông Vượng, ông Kế . Mỗi nhà nuôi thầy đồ mấy ngày. Ông trọ ở nhà anh Kim . Mỗi tháng gánh sang một gánh gạo, còn tiền ăn tiền ở gia đình không lấy. Học suốt mấy năm liền, cho đến khi cách mạng tháng Tám thành công . Ông về quê, làm Bí thư Thanh niên. Đến tháng 11/ 1947, ông được kết nạp Đảng. Năm 1949 , ông đi bộ đội – trở thành chiến sĩ của Trung đoàn 36- Sư đoàn 308 anh hùng. Sư đoàn ông hồi đó gọi là Đại đoàn Quân Tiên phong. Anh hùng lắm . Đánh Pháp- đơn vị ông lên Điện Biên từ những ngày đầu. Kéo pháo vào rồi lại kéo pháo ra . Gian khổ lắm . Nhưng cũng rất tự hào. Ông kể những chuyện đó với chúng tôi một cách rành rọt và rất tự hào . Ông bảo : hồi ấy ở đơn vị ông còn có đồng chí Chu Văn Mùi- người quê Việt Yên- Bắc Giang của mình. Sau kháng chiến đã được tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Qua chống Pháp rồi sang chống Mỹ, ông vẫn ở Sư đoàn 308. Mãi đến dịp sau Tết Mậu Thân 1968 , ông được lệnh vào Nam chiến đấu. Lúc đó, ông vào Quân khu V. Rồi tham gia chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, giải phóng Sài Gòn . Sau 1975, trở về miền Bắc, ông là Sư đoàn phó Sư đoàn 301- Quân khu Thủ đô. Năm 1982- ông rời quân ngũ, về hưu cho đến bây giờ. Những chuyện này, ông kể một mạch. Tất cả như đã được sắp sẵn . Đó là những ký ức không thể nào quên của một người lính có 33 năm cầm súng 

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng

Người lính Lê Xuân Hãng 

Rời quân ngũ, ông về quê nhưng vẫn miệt mài làm việc . Ông toàn làm những việc liên quan đến Chữ. Nhất là chữ Nho. Cái Chữ mà ông đã dày công theo học suốt một thời trai trẻ , thì đến nay, sau gần 40 năm ông mới thực sự dùng. Về làng, ông dạy chữ Nho cho các nhà sư ở Bắc Ninh và ở Bắc Giang. Thiên hạ , ai cần đến thì ông cho Chữ. Ông viết câu đối, đại tự, dịch văn bia ... Ai cần đến ông thì ông giúp . Rất vô tư. Rất nhiệt tình. Đặc biệt , ông còn được địa phương mời làm cố vấn cho Hội thơ ở quê ông. Rồi ông viết sách, làm thơ và dịch thơ . Nhất là thơ của Bác Hồ vĩ đại. Ông thích làm thơ về Bác và dịch thơ của Bác là bởi vì ông đã được gặp Bác hai lần trong quân đội. Cả hai lần ấy, ông đều thấy cực kỳ ấn tượng về một vị lãnh tụ hết sức giản dị, gần dân và thật là vĩ đại. Trong gần chục đầu sách ( đã in và chưa in) thì có tới 3 tập thơ ông viết về Bác Hồ. Đó là tập” Búp sen xanh diễn ca” ; “ Trên đường thiên lý” và “ Con đường cách mạng”. Ba tập ấy bao gồm tới 21 434 câu song thất lục bát . Ngoài ra, ông cụ còn dịch tập thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ ra thơ lục bát, chuyển thể tác phẩm “ Bác Hồ viết di chúc “ của đồng chí Vũ Kỳ sang thơ lục bát...Ngoài viết về Bác Hồ, ông Lê Xuân Hãng còn đặc biệt kính trọng và cũng dành nhiều tâm sức viết về Đại tướng. Nhân dịp kỷ niệm 90 năm rồi 100 năm Ngày sinh Đại tướng, ông đều làm thơ để tặng . Gần 90 tuổi rồi, ông vẫn mang thơ ra tận số nhà 30 Hoàng Diệu- Hà Nội để kính tặng Đại tướng nhân dịp Đại tướng tròn tuổi 100. Thế mới biết sức lao động sáng tạo của người cựu chiến binh Lê Xuân Hãng là dồi dào, sung mãn đến thế nào . Thật là khâm phục !

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Một số tác phẩm của ông Lê Xuân Hãng 

Trước lúc chia tay, chúng tôi hỏi ông : trong biết bao những bài thơ mà ông đã làm, ông thích bài nào nhất? Ông cụ nhìn chúng tôi . Hấp háy mắt tươi cười, ông dí dỏm trả lời “ bài nào chả thích!!!” Nói vậy , nhưng rồi ông lại bảo : “ tớ thích nhất bài khoán thủ - dựa vào câu kết của bài thơ Mới ra tù tập leo núi của Bác Hồ . Câu ấy, tớ đã dịch là : Trông về cố quốc ngẩn ngơ nhớ người. Bài thơ ấy thế này nhé.” Nói rồi, ông đọc liền một mạch bài thơ đó cho tôi ghi lại :

Trông vời sông núi rộng bao la
Về với quê hương, đất nước nhà
Cố ý đi tìm hình của Mẹ
Quốc tình đâu những dáng người Cha
Ngẩn ngơ chân bước Tây Phong Lĩnh
Ngơ ngẩn lệ rơi Bắc Nhị Hà
Nhớ bạn canh trường, hồi thổn thức
Người ơi có thấu nỗi lòng ta !

Thật là tuyệt vời . Ơn giời, ông cụ hơn 90 xuân mà vẫn còn tinh tường , thông tuệ lạ thường. Gần về, anh Nguyễn Đình Kim giở đôi câu đối viết bằng chữ Nho trên giấy đỏ ra nhờ ông dịch hộ. Ông cụ , vuốt phẳng câu đối và dich ngay một mạch . Dịch xong lại giải nghĩa cho luôn. Anh em tôi , một lần nữa lại cúi đầu khuất phục trước trí tuệ phi thường của người lính già kính mến.

Gần trưa, lúc chuẩn bị chia tay, người lính già ấy còn nắm chặt tay tôi và bảo:
- Hôm nay, các cậu ở lại đây uống rượu !

- Ông ơi ! Ông uống được bao nhiêu mà mời chúng con- Nguyễn Đình Kim vui vẻ trả lời !
Rất nhanh, ông cụ phản hồi :

- Các ông ở lại là tôi uống được !

Cả ba người cười vang xóm nhỏ. Khi chúng tôi ra đến cửa rồi, vẫn thấy tiếng ông cụ nói theo:

- Thỉnh thoảng, các cậu lại về đây chơi nhé !

Lời mời chân tình của ông như níu chân người. Vâng, chúng con sẽ lại về . Để được nghe ông kể chuyện, nghe ông đọc thơ. Với chúng tôi, ông là người lính già đang sở hữu một kho Chữ vô cùng quý giá !

( ảnh đầu trang : Ông Lê Xuân Hãng đang dịch câu đối )

TRẦN THANH