Sidebar

17
Chủ nhật, 12

Đến với những bài thơ viết trong Tháng Bảy

Chủ đề khác

HIEPHOANET :
Đất nước- Tháng Bảy này đâu đâu cũng ngát mùi hương khói ! Từ ban thờ trong mỗi gia đình có người ra trận không về, từ bạt ngàn mộ chí trên mỗi nghĩa trang khắp miền đất nước và từ cả những con sông, sườn núi, thung sâu...nơi các Anh hùng liệt sĩ đang nằm ! Khói hương nhắc những người đang sống nghĩ về những sự hy sinh. Không chỉ là sự hy sinh của người ra trận. Mà đó còn là sự hy sinh cao cả, lặng thầm của hàng triệu những người Mẹ , người Vợ liệt sĩ ở chốn hậu phương . Đã có biết bao nhiêu những bài ca, bài thơ, những câu chuyện xúc động nghẹn ngào nhưng đẹp như cổ tích viết về sự hy sinh cao đẹp đó . Mỗi câu chuyện là một tượng đài bất tử sống mãi trong lòng người đọc. Nhân Tháng Bảy tri ân- Tháng Bảy kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh- Liệt sĩ 2017, BBT Hiephoa.net đã và đang lần lượt đăng tải, bình luận về một số bài thơ tiêu biểu viết về chủ đề này do chính các tác giả gửi đến trong những ngày qua. Nghĩ rằng : đây cũng là một việc làm cần thiết, là những nén hương thơm bày tỏ lòng tiếc thương và sự biết ơn vô hạn với các Anh hùng liệt sĩ đã quên mình vì Nước vì Dân; là lời tri ân sâu sắc trước sự hy sinh cao cả của biết bao thân nhân liệt sĩ cũng như của bao người đã cống hiến tuổi xuân của mình cho Đất nước nở hoa.


I- BÀI THƠ: ĐẤT NƯỚC- MẸ CỦA CHU QUANG HIỂN


Lời ru của mẹ những ngày xưa
Về đất nước nhọc nhằn mưa nắng
Đất nước ngày nào cơm tẻ no đâu
Đừng sớm vội quên khoai quên sắn

Đất nước chạy dài theo kinh độ
Sương muối Đồng Văn, nắng cháy Cà Mau
Biển Đông không hẳn là bạc, như câu cổ ngữ
Có những đau lòng, tai họa từ biển xanh

Gió bão nổi đùng cướp đi bao sinh mạng
Đất nước sống bằng nông nghiệp
Mùa màng trông cậy nắng gió trăng sao
Lúa chín cắm sào đầu ruộng...

Trắng đồng nước lũ, bạc tỷ trôi sông
Nắng hạn cháy đồng, mùa màng thất bát
Đất nước bao phen trận mạc
Nanh vuốt quân thù biên ải ngó nghiêng

Tiễn chồng đi, rồi lại tiễn con đi
Mái tóc đổi màu, bằn bặt tin xa
Lưng còng gánh cả đất trời và lời hứa cho ngày gặp lại
Âm thầm lặng lẽ thời son trẻ…

Lầm lũi thân cò, bến nước nửa vành trăng
Bùi ngùi nhớ lại năm 1975
Mừng con trở về, khóc chồng liệt sĩ
Đêm lại khóc, khóc không thành tiếng

Thương con rầu lòng, giấc ngủ không ngon
Tuổi già thân hạc bên cháu nhỏ
Trông ảnh gọi ông mà thấy ngượng ngùng
Bàn thờ chồng dạy cháu gọi ông

Ông trẻ thế, sao bà già vậy?
Ngậm ngùi số phận, hờn mát trẻ thơ
khoảng trời tĩnh lặng, mây bồng bềnh trôi
Cho con, cho cháu, cho đời
Sang kia bến hẹn... với người ngày xưa 
CHU QUANG HIỂN

Bài thơ: Đất nước- Mẹ của Chu Quang Hiển viết ngày 2-7-2012 với lời tựa “ Kính tặng những người vợ liệt sĩ thờ chồng, nuôi con”. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, với mạch cảm xúc được khơi nguồn từ hình ảnh và lịch sử của Đất Nước rộng dài với biết bao nhọc nhằn gian khổ đến hình ảnh của Người Mẹ Việt Nam đã mấy lần tiễn chồng con ra trận, rồi lặng lẽ khóc thầm khi đất nước đã bình yên. Đất Nước sinh ra Mẹ và Mẹ đã góp phần làm nên Đất Nước. Bởi thế, bài thơ có hai phần rõ rệt. Phần I : Đất Nước và phần II : Mẹ.
Phần I - được diễn tả trong 4 khổ thơ đầu và được dẫn nguồn từ lời ru của Mẹ.Lời ru ngọt ngào nhưng ẩn chứa những suy tư , trăn trở của con người về đất nước thân yêu . Đất nước với những năm tháng nhọc nhằn mưa nắng, đất nước có những ngày cơm tẻ chưa no và nhắn nhủ mọi người đừng quên khoai quên sắn :
Lời ru của mẹ những ngày xưa
Về đất nước nhọc nhằn mưa nắng
Đất nước ngày nào cơm tẻ no đâu
Đừng sớm vội quên khoai quên sắn.

Đọc và ngẫm nghĩ . Người ta nhận thấy, trong khổ thơ này, hẳn Chu Quang Hiển không chỉ nói về đất nước trong những ngày nhọc nhằn mưa nắng. Mà từ ý nghĩa lời ru, tác giả muốn nhắn gửi người đời một bài học nhân sinh : sống trên đời cần “ Uống nước nhớ nguồn” bưng bát cơm thơm hôm nay đừng quên những ngày khoai sắn ! Thơ Chu Quang Hiển là vậy. Không hoa mỹ cầu kỳ, nhưng rất giàu nhạc điệu, hình ảnh. Thường có cốt truyện, nhiều tầng nghĩa, rất kín đáo, thâm trầm. 
Và vẫn bằng những lời thơ mộc mạc, ba khổ thơ tiếp theo, tác giả liệt kê hàng loạt những khó khăn nhọc nhằn , những thử thách, chông gai với Tổ quốc Việt Nam suốt chiều dài lịch sử :

Đất nước chạy dài theo kinh độ
Sương muối Đồng Văn, nắng cháy Cà Mau
Biển Đông không hẳn là bạc, như câu cổ ngữ
Có những đau lòng, tai họa từ biển xanh

Gió bão nổi đùng cướp đi bao sinh mạng
Đất nước sống bằng nông nghiệp
Mùa màng trông cậy nắng gió trăng sao
Lúa chín cắm sào đầu ruộng...

Trắng đồng nước lũ, bạc tỷ trôi sông
Nắng hạn cháy đồng, mùa màng thất bát
Đất nước bao phen trận mạc
Nanh vuốt quân thù biên ải ngó nghiêng

Có lẽ đây cũng là một sự khác biệt của Chu Quang Hiển so với nhiều người khi viết về đất nước. Anh không ngợi ca: đất nước ta rừng vàng biển bạc, đồng ruộng phì nhiêu , bốn mùa hoa trái. Mà anh điểm lại những thử thách, gian truân của một quốc gia có nhiều thiên tai địch họa khôn lường. Từ “ sương muối Đồng Văn” cực bắc đến “ nắng cháy Cà Mau” cực Nam . Từ Biển Đông dậy sóng đến bão lũ kinh hoàng . Từ “ nắng hạn cháy đồng” đến “ bạc tỷ trôi sông”. Kể cả khi “ lúa chín cắm sào đầu ruộng...” cũng có thể bị thiên tai cướp trắng. Và cuối cùng, gian khổ , cam go nhất là hiểm họa ngoại xâm . Là nỗi đớn đau của một đất nước đã “ bao phen trận mạc- nanh vuốt quân thù, biên ải ngó nghiêng” !
Một đất nước như vậy, muốn tồn tại, đi lên, phải có những con người cần mẫn lao động, chống lại thiên tai . Một đất nước như vậy, cần có những lớp người bất khuất .hiên ngang chống lại kẻ thù xâm lược . Và từ mạch nguồn của tư duy và cảm xúc đó, Chu Quang Hiển chuyển sang khắc họa tượng đài của Người Mẹ - Người Vợ liệt sĩ Việt Nam trong những cuộc chiến tranh ái quốc :

Tiễn chồng đi, rồi lại tiễn con đi
Mái tóc đổi màu, bằn bặt tin xa
Lưng còng gánh cả đất trời và lời hứa cho ngày gặp lại
Âm thầm lặng lẽ thời son trẻ…

Chỉ bằng bốn câu thơ, anh Chu Quang Hiển đã khái quát được sự hy sinh lặng thầm, dai dẳng của người Vợ, người Mẹ Việt Nam khi tiễn chồng con ra trận . Thời gian dài lâu và nỗi ngóng trông trong tuyệt vọng “ bằn bặt tin xa “ đã khiến mái tóc họ đổi màu . Và đặc biệt , hình ảnh “ Lưng còng gánh cả đất trời và lời hứa cho ngày gặp lại” là một hình ảnh mang nhiều ý nghĩa. Đó vừa là hình ảnh người phụ nữ già nua, tảo tần lam lũ, gồng gánh gia đình đi hết một thời tuổi trẻ để chờ đợi chồng con. Nhưng cũng là hình ảnh vĩ đại của biết bao Người Mẹ Việt Nam đã còng lưng gánh cả đất trời và lời hứa cho ngày gặp lại . Chao ôi ! Lời hứa cho yên lòng người ở lại xưa kia sao nặng đến vô cùng ! Bằng lối viết khoa trương kết hợp với phép tu từ ẩn dụ đặc sắc, tác giả đã tạc nên một tượng đài sừng sững về vẻ đẹp sáng ngời của sự hy sinh. 
Và, sự hy sinh ấy của các Mẹ đã được đền đáp bằng chiến thắng cuối cùng của dân tộc Việt Nam. Mùa Xuân năm 1975 đã đi vào lịch sử . Tổ Quốc ta đã thống nhất . Đất nước đã hòa bình . Người Mẹ trong thơ Chu Quang Hiển đã mừng vui được đón người con yêu dấu trở về, nhưng lại tái tê chết lặng trong lòng khi biết tin chồng không về nữa !

Lầm lũi thân cò, bến nước nửa vành trăng
Bùi ngùi nhớ lại năm 1975.
Mừng con trở về, khóc chồng liệt sĩ
Đêm lại khóc, khóc không thành tiếng

Thương con rầu lòng, giấc ngủ không ngon
Tuổi già thân hạc bên cháu nhỏ
Trông ảnh gọi ông mà thấy ngượng ngùng
Bàn thờ chồng dạy cháu gọi ông.

Đoạn thơ với nhiều hình ảnh tương phản sắc nét , đậm chất tự sự đã khắc họa thành công tâm trạng của người phụ nữ Việt Nam sau cuộc chiến . Mừng người con trở về nhưng lại đau nỗi đau khi chồng là liệt sĩ. Đau đấy, nhưng sợ con rầu lòng, không ngon giấc ngủ, đêm đêm bà chỉ biết khóc thầm. Rồi khi cháu ra đời, không biết mặt ông. Có những sáng, những chiều nào, bà lặng lẽ bế cháu đứng bên bàn thờ, dạy cháu gọi ông qua ảnh ! Hãy để lòng lắng lại và tưởng tượng cảnh này, ta có thể hình dung ra nỗi lòng người bà đang dạy cháu gọi ông. Ta có thể thấy những giọt nước mắt đang lăn dài trên gò má của người vợ liệt sĩ đã thờ chồng, nuôi con trong biết bao ngày tháng. Và tiếp tục câu chuyện này giữa hai bà cháu, kết thúc bài thơ, tác giả một lần nữa lại nói về nỗi đau và sự hy sinh lặng thầm của những người vợ có chồng là liệt sỹ :

Ông trẻ thế, sao bà già vậy?
Ngậm ngùi số phận, hờn mát trẻ thơ
khoảng trời tĩnh lặng, mây bồng bềnh trôi
Cho con, cho cháu, cho đời
Sang kia bến hẹn... với người ngày xưa

Câu hỏi ngây thơ :” Ông trẻ thế, sao bà già vậy?” của đứa bé như xát muối vào lòng bà cũng như vào lòng người đọc. Bức di ảnh của người liệt sĩ mãi mãi là một chàng trai trẻ. Còn người con gái ngày xưa khi tiễn chồng đi nay đã quá già . Câu thơ gián tiếp kể về một khoảng rất xa – từ lúc trẻ nay đã về già của một đời con gái. Người con gái ấy đã một mực thờ chồng nuôi con nuôi cháu cho đến khi ” khoảng trời tĩnh lặng, mây bồng bềnh trôi” . Bà đã đi trọn kiếp người, thanh thản về nơi bến hẹn với “ người ngày xưa” !!!
Bài thơ khép lại bằng cuộc đoàn tụ với “ người ngày xưa” của bà sau bao nhiêu năm xa cách. Không còn đau đớn, chẳng còn nhớ nhung. Chỉ còn lại sừng sững một pho tượng đài của người vợ liệt sĩ thủy chung son sắt , đã một đời lặng lẽ hy sinh, thờ chồng, nuôi con khôn lớn !

( Còn nữa )

TRẦN NGUYỄN